Giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Đông Á và Việt Nam

GIÁO DỤC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM

PGS.TS Trần Thọ Đạt

Bài viết này tóm tắt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Đông Á và Việt Nam. Các nghiên cứu này chỉ ra rằng giáo dục đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế ở Đông Á, nhưng bản thân giáo dục không phải là một điều kiện đủ, do vậy sự kết hợp giữa giáo dục và các nguồn tăng trưởng khác mới được nhìn nhận là những động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Bài viết cũng tổng quan các kết quả nghiên cứu về vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng ở Việt Nam, trong đó khẳng định giáo dục là một thành tố quan trọng góp phần gia tăng thu nhập, là một nhân tố phát triển và đề xuất một số kiến nghị chính sách nhằm thúc đẩy vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng.
1. Giáo dục và tăng trưởng ở Đông Á
Tầm quan trọng của giáo dục đối với tăng trưởng
Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế từ lâu đã nhận thấy rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và giáo dục chính là cách thức cơ bản để tích lũy vốn con người. Các tác giả cổ điển trước đây như Adam Smith, Afred Marshall và nhiều tác giả khác đã có một số quan điểm về khái niệm “vốn con người”, nhưng tầm quan trọng của nó đối với tăng trưởng kinh tế chưa được xác lập. Sau đó, Pigou đã dành cả cuộc đời nghiên cứu về vốn nhân lực và tìm hiểu vấn đề: có hay không một mối quan hệ có ý nghĩa giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế và các nền kinh tế có nên đầu tư vào giáo dục hay không?
Đông Á đã từng là một trong số các khu vực được khảo sát và thảo luận nhiều nhất về có hay không “thần kỳ kinh tế”, do tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong những năm 1990 và sự hội tụ nhanh chóng tới thu nhập bình quân đầu người của khu vực này với các nước công nghiệp hoá. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng một nhân tố quan trọng trong thành công của Đông Á trong giai đoạn 1965-1990 là đã hình thành một cơ sở tích luỹ vốn con người thông qua phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, trong khi giáo dục đại học chủ yếu được đáp ứng thông qua các hệ thống tự cấp tài chính. Gần đây, Permani (2008) sử dụng dữ liệu giai đoạn 1965-2000 và mô hình Solow mở rộng cho các quốc gia Đông Á và đã chỉ ra tác động tương đối có ý nghĩa của vốn con người (đo lường bằng số năm học tập) đối với tăng trưởng kinh tế, ngoài những đóng góp của tỉ lệ đầu tư và tăng trưởng dân số. So sánh với các kết quả từ dữ liệu trước khủng hoảng tài chính năm 1997, đóng góp đối với tăng trưởng của giáo dục có sự gia tăng trong khi đóng góp của đầu tư lại giảm sút. 
Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm ít lạc quan hơn về vai trò của vốn con người ở khu vực Đông Á, thể hiện ở việc là mặc dù tầm quan trọng của giáo dục ở khu vực Đông Á là được thừa nhận, nhưng mối quan hệ về mặt thống kê của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế còn yếu. Một thực tế khá rõ ràng là trong khi không một nền kinh tế nào ở khu vực này có sự suy giảm về tỉ lệ nhập học bậc trung học và đại học trong vòng 15 năm qua, tuy nhiên tăng trưởng kinh tế của Đông Á gần đây lại có hai giai đoạn: trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997. Các tranh luận về đóng góp của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế cũng nảy sinh ở sự khác biệt giữa các nhà kinh tế trong việc xác định nhân tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Á. Cho đến nay, giáo dục vẫn chưa được coi là một nhân tố quan trọng hàng đầu đối với tăng trưởng kinh tế. Mặc dù mối quan hệ giữa tăng trưởng trong giáo dục và tăng trưởng kinh tế được đo lường bằng quan hệ giữa gia tăng trong số năm đi học trung bình và tăng trưởng GDP bình quân đầu người được thừa nhận, nhưng một số nghiên cứu đã kết luận rằng giáo dục ở các nền kinh tế Đông Á là điều kiện cần chứ không phải điều kiện đủ để duy trì tăng trưởng. Mối liên hệ không mạnh giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế cũng thể hiện thông qua một thực tế là trong khi số sinh viên nhập học bậc đại học gia tăng, tỉ lệ thất nghiệp của những người có bằng đại học cũng gia tăng ở hầu hết các quốc gia Đông Á trong giai đoạn 1985-2006. Kết quả này nói lên có sự không tương hợp giữa cầu và cung lao động có học vấn. Nhìn chung, khi một nền kinh tế tiến tới giai đoạn phát triển cao hơn thì nhu cầu về lao động có học vấn thường gia tăng, tuy nhiên điều này có thể lại không phải là trường hợp của Đông Á (theo [10]).
Mặt khác, cũng có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vai trò khá lu mờ của giáo dục so với các yếu tố đầu vào khác. Các nghiên cứu trong các thập niên 1980 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của định hướng xuất khẩu, tự do hóa thương mại và kiểm soát tỉ giá hối đoái trong thành công kinh tế của Hồng Kông (Chen, 1997), và giáo dục chỉ được coi là một nhân tố tiền đề cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Kang (2006) đã lập luận rằng “phép màu về tăng trưởng kinh tế” không xảy ra ở Hàn Quốc, do lợi suất bị giảm dần theo quy mô công nghệ và tăng trưởng có được phần lớn là do tốc độ tích lũy tư bản nhanh chóng. Mặc dù Malaysia mở rộng giáo dục trên quy mô lớn, nhưng người ta không tìm thấy một gia tăng mạnh mẽ trong tỉ lệ thu hồi của giáo dục trong giai đoạn 1984-1997, và do đó không có đủ minh chứng để lập luận rằng giáo dục là nhân tố chính cho tăng trưởng ở Malaysia (Milanovic, 2006).
Có một điều cần lưu ý là, tương tự như ở các khu vực khác, ở khu vực Đông Á cũng tồn tại khả năng về mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa giáo dục và tăng trưởng. Hệ thống giáo dục Đông Á cũng được hình thành và mở rộng trong mối quan hệ chặt chẽ với các giai đoạn phát triển kinh tế: kinh tế càng phát triển, thì nhu cầu về hệ thống giáo dục tốt hơn và cao hơn ngày càng gia tăng. Có ít nhất hai kênh qua đó tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục ở Đông Á. Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong giai đoạn 1979-1994 đã gia tăng nhu cầu về lao động có học vấn, dẫn tới việc tăng trưởng nhanh chóng về số học sinh nhập học. Điều này đến lượt nó đã dẫn tới gia tăng tính cạnh tranh giữa những lao động có học vấn, và cuối cùng là thu nhập cao hơn và tăng trưởng kinh tế cao hơn (Zin, 2005). Thứ hai, hệ thống giáo dục ở hầu hết các nền kinh tế Đông Á được hình thành và mở rộng trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế “định hướng phương Tây” của khu vực, và do vậy cùng làm cho hệ thống giáo dục của khu vực không tránh khỏi xu hướng này.
Đánh giá tác động của giáo dục đối với tăng trưởng
Trong thời gian qua, các nghiên cứu về vai trò kinh tế của giáo dục đã phát triển mạnh theo hai hướng độc lập nhau: (i) ước lượng về lợi suất tính bằng tiền của giáo dục trên cơ sở nền tảng kinh tế lao động vi mô, và (ii) nghiên cứu tăng trưởng kinh tế vĩ mô về quan hệ giữa vốn con người của các quốc gia hay các vùng/tỉnh với tăng trưởng GDP.
Theo hướng thứ nhất, các kết quả nghiên cứu cho thấy thành tích của giáo dục là một biến quan trọng xác định thu nhập ở tầm vi mô. Từ một phân tích về dữ liệu tổng điều tra năm 1995 của Indonesia, người ta đã kết luận rằng tỉ lệ thu hồi của giáo dục là 6,8-10,6%. Giáo dục cũng là một nhân tố quan trọng ở Singapore khi nước này bắt đầu quá trình tăng trưởng ban đầu là một trung tâm lao động có mức lương thấp, nhưng ngay sau đó mức lương đã tăng lên cùng với việc mở rộng giáo dục (theo [10]). Ở Malaysia, giáo dục cũng là một nhân tố quan trọng quyết định thu nhập, ngoài biến số là giới tính và dân tộc (Milanovic, 2006). Tại Đài Loan, thu hồi của giáo dục đối với những người lao động có bằng cao đẳng đã tăng lên kể từ năm 1980 (Lin và Orazem, 2004).
Đi theo hướng thứ hai là các phân tích và ước lượng các mô hình tăng trưởng sử dụng số liệu chéo (cấp quốc gia hay cấp vùng). Có thể nhận thấy, những nghiên cứu này khởi nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của các lý thuyết tăng trưởng nội sinh, và mô hình được sử dụng trong các nghiên cứu này thường kết hợp những đặc điểm cơ bản của mô hình tân cổ điển, nhưng được mở rộng để bao hàm các chính sách chính phủ, các vấn đề thể chế và đặc biệt là tích lũy vốn con người. Mặc dù có nhiều vấn đề nảy sinh trong việc đo lường hiệu ứng tăng trưởng của vốn con người, nhưng vẫn có cơ sở để các nhà nghiên cứu lạc quan rằng những nghiên cứu này mang lại nhiều đóng góp có giá trị. Temple (2001) khẳng định rằng có mối tương quan dương giữa sự thay đổi vốn con người và tăng trưởng kinh tế, đồng thời tác động của mức vốn con người ban đầu tới tăng trưởng cũng rất đáng quan tâm. Ông cho rằng với những bộ số liệu tốt hơn và với các phương pháp phức tạp hơn, người ta có thể nâng cao độ chính xác của các ước lượng hiệu ứng tăng trưởng của vốn con người. Từ đó, chúng ta có thể hi vọng rằng những nghiên cứu tăng trưởng vĩ mô sẽ góp phần minh chứng cho những kết quả thu được từ các ước lượng vi mô về lợi suất xã hội của giáo dục (theo [11]).
Một điểm cần lưu ý là cho dù hầu hết các công trình nghiên cứu về vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng vĩ mô tập trung vào so sánh giữa các nước, sự bất đồng về hệ thống giáo dục thường khiến việc so sánh vốn con người giữa các khung khổ thể chế khác nhau của các nước trở nên vô cùng phức tạp. Tuy nhiên, vấn đề này không còn quan trọng nữa khi ta chỉ so sánh thành tựu giáo dục giữa các tỉnh trong một nước (như ở Trung Quốc hay Canada), hay giữa các bang trong một liên bang (như ở Hoa Kỳ hay Ấn Độ)… vì hệ thống giáo dục của các tỉnh hay các bang trong một quốc gia thống nhất thường khá tương đồng. Đây có thể là nguyên nhân khiến một số nhà kinh tế tin rằng những nghiên cứu kiểm nghiệm các nguồn tăng trưởng dựa trên số liệu cấp vùng/tỉnh có thể cung cấp được nhiều thông tin hứa hẹn và khả quan hơn.
2. Giáo dục và tăng trưởng ở Việt Nam
Sự phát triển của giáo dục-đào tạo
Trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế đã tạo cơ sở vật chất quan trọng cho sự phát triển trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo. Sự phát triển nhanh chóng của các cơ sở giáo dục kỹ thuật, đào tạo đại học và cao đẳng cùng với việc tăng chi phí ngân sách giáo dục và đào tạo, chính sách và giải pháp hỗ trợ cho các địa phương nghèo, hộ nghèo và các đối tượng yếu thế đã tạo điều kiện cho người lao động thuộc mọi tầng lớp đều có thể được tiếp cận các chương trình đào tạo, dạy nghề. Sự phát triển giáo dục-đào tạo trong thời gian qua đã tạo nên thay đổi đáng kể về cơ cấu dân số chia theo trình độ học vấn cũng như trình độ chuyên môn kỹ thuật của cả nước. Số liệu thống kê cho thấy giáo dục phổ thôngtrong giai đoạn 1991-2008 đã mở rộng nhanh chóng về quy mô: số trường học đã tăng 1,6 lần (đạt hơn 28 nghìn trường vào năm 2008), số giáo viên tăng 1,9 lần (đạt 807 nghìn giáo viên) và số học sinh tăng 1,2 lần (đạt hơn 15 triệu học sinh). Tỷ lệ trẻ em nhập học đúng tuổi bậc tiểu học đạt trên 93%, tỷ lệ nhập học đúng tuổi bậc trung học cơ sở đạt trên 85%, tỷ lệ nhập học đúng tuổi bậc trung học phổ thông đạt 50%. Cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tỷ lệ người lớn biết chữ tăng từ 88% năm 1993 lên 90,3% năm 2002. Tỷ lệ lao động mù chữ năm 2007 chỉ vào khoảng 4%. Giáo dục đại học và đào tạo nghề cũng có sự gia tăng nhanh về quy mô. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến hết tháng 8/2009, cả nước có 376 trường đại học, học viện và trường cao đẳng (bao gồm 150 trường đại học, học viện và 226 trường cao đẳng), vượt xa con số 96 cơ sở đào tạo vào năm 1996. Đào tạo trung cấp cũng có bước phát triển với số trường trung học chuyên nghiệp tăng từ 239 (năm 1996) lên 282 (năm 2008). Trong giai đoạn 1996-2008, quy mô đào tạo nghề tăng lên 5 lần, đào tạo bậc đại học, cao đẳng tăng gấp 3 lần. Sự gia tăng về quy mô đào tạo nguồn nhân lực đã phần nào đáp ứng nhu cầu nhân lực theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội (theo [12]).
Hiện tại, Nhà nước vẫn là người cung cấp và hỗ trợ tài chính then chốt của ngành giáo dục với mức đầu tư tính theo tỷ lệ GDP, tăng từ 3% năm 2000 lên gần 6% trong năm 2008. Chi tiêu tính theo tỷ lệ phần trăm tổng ngân sách nhà nước đã tăng đều đặn từ 15% năm 2000 lên 18,2% trong năm 2008. Cũng tương tự nhiều nước đang phát triển, phần lớn các chi tiêu này là các chi hoạt động thường xuyên và chương trình mục tiêu (từ 71% đến 82%) và nguồn tài chính để đầu tư phát triển hệ thống và đổi mới là rất hạn chế. Phần đầu tư trong tổng chi tiêu giảm từ 23,5% năm 2000 xuống còn 17,2% năm 2008 (World Bank, 2009)

Tác động của giáo dục đối với tăng trưởng
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cũng đã có một số nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng và đã có nhiều nỗ lực đo lường lợi suất thực của đầu tư vào giáo dục. Đã có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo dục và thu nhập cá nhân (Moock và các tác giả khác (1998), Nguyễn Nguyệt Nga (2002), Nguyễn Đức Thành (2004)). Tất cả những công trình này đều dựa trên cách tiếp cận kinh tế vi mô (sử dụng phương trình vốn con người – thu nhập của Mincer). Những công trình của Scott và Trương Thị Kim Chuyên (2004), Klump và Nguyễn Thị Tuệ Anh (2004) đã ít nhiều cố gắng giải thích kinh nghiệm tăng trưởng của Việt Nam trong những năm gần đây, dựa trên các biến số kinh tế-xã hội bao gồm vốn con người (theo [11]). Sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình năm 1998, Kikuchi (2007) đã tìm ra giáo dục là một trong những nhân tố quan trọng quyết định thu nhập tại Việt Nam. Han và Baumgarte (2000) cũng thực hiện một nghiên cứu về vai trò gián tiếp của giáo dục đối với tăng trưởng thông qua việc nâng cao hiệu quả phân bổ vốn của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (theo [10]). 
Đặc biệt, một nghiên cứu gần đây tập trung xem xét tác động của giáo dục đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh/thành phố ở Việt Nam thông qua một thước đo trình độ giáo dục của lực lượng lao động, đó là “Số năm đi học bình quân”. Kết quả hồi quy cho thấy “Số năm đi học bình quân” của lực lượng lao động có tác động theo chiều hướng tích cực tới mức GDP và GDP/lao động. Hệ số ước lượng thay đổi trong khoảng 0,10 đến 0,14 đối với GDP hoặc 0,10 đến 0,16 đối với GDP/lao động hàm ý rằng: nếu mọi yếu tố khác không thay đổi, thì sự gia tăng 1% của số năm đi học bình quân sẽ làm mức GDP tăng thêm 0,10 đến 0,14%/năm hoặc GDP/lao động tăng thêm 0,10 đến 0,16%/năm. Ở Việt Nam, trình độ giáo dục trung bình của lực lượng lao động ở hầu hết các tỉnh biến thiên từ 5 tới 9 năm trong giai đoạn 2000-2006, do vậy khi “Số năm đi học bình quân” tăng thêm 1 năm thì có thể dự báo thu nhập đất nước tăng thêm 1,5-2,7%/năm. Nếu so sánh với nghiên cứu vi mô về hàm thu nhập của Nguyễn Đức Thành (2004) cho kết quả ước lượng lợi suất thực của đầu tư vào vốn con người là 5,6% vào năm 2002 và Lau và các tác giả khác (1993, tr. 58-59), “lợi suất 10% của giáo dục tương đương với hiệu ứng của một năm đi học đối với tổng sản lượng vào khoảng 4%”, thì ước lượng hiệu ứng của vốn con người đối với mức GDP thu được từ phân tích nêu trên khá phù hợp với trường hợp của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu so sánh với hệ số ước lượng của vốn và hệ số ước lượng của lao động, rõ ràng hệ số ước lượng của trình độ giáo dục khi được đo bằng “Số năm đi học bình quân” là khá thấp. Điều này cho thấy phần nào vai trò của giáo dục chưa được thể hiện rõ nét như vốn vật chất và lao động, hay nói cách khác, nền kinh tế Việt Nam nói chung và các tỉnh, thành phố nói riêng còn dựa vào tăng trưởng theo chiều rộng (gia tăng các nhân tố đầu vào là vốn vật chất và lao động) hơn là tăng trưởng theo chiều sâu (dựa trên tích lũy vốn con người và tiến bộ công nghệ) (theo [11]). Như vậy, các kết quả nghiên cứu được rút ra về tác động của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam khá nhất quán với một số nghiên cứu khác trên thế giới, như nghiên cứu về các nước OECD của Wolff (2000), Bils và Klenow (2000).  
3. Một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam
Mặc dù có thể nói những minh chứng về vai trò rõ nét của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế ở Đông Á và Việt Nam cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn thuyết phục, nhưng rõ ràng là chính phủ các nước không thể không đầu tư vào giáo dục, vì khoản đầu tư này tác động dài hạn không chỉ đối với các hoạt động của nền kinh tế mà còn đối với phúc lợi của toàn xã hội. Điều quan trọng đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách là cần thiết kế một hệ thống giáo dục như thế nào cho hiệu quả để đạt được các mục tiêu dài hạn này. Do vậy, một nghiên cứu thực nghiệm toàn diện về tỉ lệ thu hồi của giáo dục, bao gồm những cân nhắc đến chi phí và lợi ích của giáo dục là điều rất cần thiết nhằm hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong định hướng phát triển các bậc học.
Nhìn chung, việc thiết kế một chương trình giáo dục các cấp có hiệu quả về mặt kinh tế là một nhiệm vụ không dễ dàng. Các nghiên cứu về giáo dục và tăng trưởng cho thấy giáo dục chỉ có thể có tác động mạnh mẽ đến kinh tế nếu nó đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy sáng tạo, nâng cao thu nhập cho người lao động, và hệ thống giáo dục cần được thiết kế sao cho mọi người có thể tiếp cận được dễ dàng nhằm hướng tới bình đẳng thu nhập và phát triển xã hội bền vững. Giáo dục cần phải góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng của lực lượng lao động, nâng cao kỹ năng quản lý, tính linh hoạt của lao động, thúc đẩy chuyển tải thông tin mới nhanh hơn, xóa bỏ được các rào cản xã hội và thể chế. Benavot (1992) cho rằng một khung chương trình đào tạo hướng trọng tâm vào các lý luận khoa học nền tảng, kỹ năng toán học và sự thành thạo về ngôn ngữ sẽ rất có hiệu quả trong việc gia tăng năng suất của nền kinh tế (theo [10]).
Nghiên cứu về “kĩ năng cho tăng trưởng” gần đây của Ngân hàng Thế giới đối với giáo dục đại học của Việt Nam cho thấy cầu về lao động có kĩ năng trong thời gian qua gia tăng đáng kế ở Việt Nam, do có sự thay đổi về cơ cấu việc làm có trình độ cao giữa các ngành công nghiệp và những thay đổi về công nghệ theo hướng dựa nhiều hơn vào lao động có kĩ năng và chất lượng cao. Tuy nhiên, bởi vì hiệu ứng của giáo dục, nhất là giáo dục ở bậc cao đẳng, đại học và sau đại học  đối với mức GDP và GDP/lao động của các tỉnh, thành phố không đồng nhất giữa các vùng, nên cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cần áp dụng những chính sách đầu tư thích hợp đối với giáo dục nhằm thúc đẩy tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo. Trong các cấp giáo dục, bậc tiểu học và THCS rất cần thiết cho khu vực phía Nam, trong khi miền Bắc dường như dư thừa lao động ở trình độ sơ và trung cấp. Hiện tượng này cho phép dự đoán một luồng di dân có trình độ giáo dục trung bình từ miền Bắc vào miền Nam, và điều này đã trở thành hiện thực trong những năm qua. Kiến nghị chính sách để nâng cao tăng trưởng kinh tế và thu hẹp khoảng cách giữa các tỉnh, thành phố chính là tiếp tục phát huy các thành tựu phổ cập giáo dục tiểu học, tiến tới phổ cập giáo dục THCS, đặc biệt chú trọng khu vực từ Nam Trung Bộ đổ vào và các tỉnh có thu nhập thấp và trung bình. Trong khi đó, giáo dục ở bậc cao đẳng, đại học và sau đại học có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói chung và kinh tế các tỉnh miền Bắc nói riêng, đặc biệt ở nhóm các tỉnh có thu nhập cao. Để tăng cường trình độ giáo dục của lực lượng lao động, một mặt cần phải mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở cấp hệ thống, mặt khác, cũng cần thấy rằng các tỉnh không nên quá chú trọng trong việc vận động mở thêm trường (bao gồm cả các trường đại học), mà cần quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển hệ thống giáo dục phù hợp với đặc điểm nhu cầu lao động của địa phương và của vùng, đồng thời nghiên cứu sớm áp dụng hệ thống lao động và tiền lương ưu đãi để thu hút nhân tài.
Trong việc phát triển giáo dục hiện nay, Việt Nam cũng cần phải thích ứng với những tác động của toàn cầu hóa. Tương tự như trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế, toàn cầu hóa trong giáo dục mang lại cả chi phí và cơ hội. Quá trình toàn cầu hóa giáo dục hiện nay trên thực tế đã biến giáo dục các quốc gia phương Tây thành một “tiêu chuẩn vàng” mà các nước khác cần “bắt kịp”. Nhưng điều này có thể là một mối đe dọa đối với văn hóa Châu Á. Tiếng Anh đang thay thế ngôn ngữ của các quốc gia này khi sách giáo khoa viết bằng tiếng Anh được sử dụng ngày càng rộng rãi và thị trường việc làm đòi hỏi các ứng viên phải biết sử dụng tiếng Anh thành thạo. Hệ quả của điều này là người dân giảm dần niềm tự hào dân tộc, dẫn tới nguy cơ suy giảm niềm tin đối với những chính sách của chính phủ. Do vậy, việc bảo tồn cá giá trị văn hóa trong giáo dục đang trở nên ngày càng quan trọng. Một ví dụ rất thành công về việc này là Nhật Bản, một đất nước duy trì và phát triển được di sản văn hóa của mình trong quá trình tiếp thu những thành tố của hệ thống giáo dục Pháp, Đức và Mỹ.    
Đối với các nền kinh tế có mức thu nhập thấp và phải cân bằng giữa việc gia tăng số lượng và chất lượng trong phát triển giáo dục, người ta thường thừa nhận rằng trong giai đoạn đầu phát triển, vấn đề số lượng nhận được sự quan tâm về mặt chính sách hơn là vấn đề chất lượng. Tuy nhiên, một thực tế đáng tiếc là ở một số quốc gia Đông Á, việc mở rộng giáo dục về số lượng đã được thực hiện trên cơ sở đánh đổi với chất lượng, ví dụ như ở Indonesia. Trái ngược với việc mở rộng giáo dục đầy ấn tượng, chất lượng giáo dục của quốc gia này không đáp ứng được nhu cầu do sự quá tải, khung chương trình không có tính tích hợp, nguồn lực không đáp ứng đầy đủ, và các kỳ kiểm tra toàn quốc không được kiểm soát nghiêm ngặt (theo [10]).
Một tranh luận gần đây về cách thức tiếp cận với giáo dục ở Đông Á là về vấn đề xã hội hoá giáo dục. Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, chính sách này đã mang lại sự gia tăng nhanh chóng trong số sinh viên nhập học đại học. Tuy nhiên, quá trình xã hội hoá cũng tồn tại trong nó nhiều vấn đề. Sinh viên từ gia đình nghèo khó phải vất vả hơn để tiếp tục học tập khi chính phủ phải chi tiêu ít hơn cho giáo dục. Trong cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, những giảm sút trong thu nhập thực tế của các hộ gia đình dẫn tới tỉ lệ bỏ học ồ ạt tại Indonesia. Hơn nữa phân cấp hóa giáo dục trong một nền kinh tế có những khác biệt lớn về kinh tế giữa các tỉnh/thành có thể dẫn đến những vấn đề bất bình đẳng nghiêm trọng về thu nhập. Vai trò của giáo dục và đào tạo là rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến phát triển con người trong bối cảnh khủng hoảng và hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu.Khủng hoảng có thể gây nên những tác động không đồng nhất đối với thị trường lao động, do vậy có thể dẫn tới những tác động khác nhau đến nhu cầu đối với giáo dục cũng như tác động về phúc lợi do thu nhập bị giảm sút. Các hộ gia đình bị tổn thương nhiều có thể trì hoãn, hoặc từ bỏ đầu tư cho giáo dục. Tác động của cuộc khủng hoảng hiện nay đã lộ rõ điểm yếu của nguồn lao động Việt Nam là trình độ chuyên môn thấp và chính phủ cần gia tăng đầu tư hơn nữa vào các “kĩ năng cho tăng trưởng”.
Các mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại đều khẳng định rằng các quốc gia đang phát triển có thể đạt được tăng trưởng kinh tế một cách lâu dài và tốt nhất thông qua việc giảm khoảng cách công nghệ với các quốc gia phát triển. Giáo dục là một điều kiện cần thiết để các quốc gia này có thể “bắt kịp” về công nghệ, nhưng đây chưa phải là một điều kiện đủ. Cần phải theo đuổi và thực thi các chính sách và biện pháp khác nhằm vượt qua những khác biệt về mặt công nghệ như thúc đẩy đầu tư nước ngoài và áp dụng công nghệ tiên tiến, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng một hệ thống quản trị hiệu quả,  áp dụng hệ thống tài chính minh bạch, thực thi nghiêm ngặt luật về bản quyền và sở hữu trí tuệ.... Trên thực tế, sự bổ sung giữa giáo dục và những nhân tố khác mới là động lực thực sự thúc đẩy phát triển kinh tế. Nhìn chung, hoạt động của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay có ảnh hưởng tốt đến tăng trưởng các tỉnh, thành phố Việt Nam. Tuy nhiên, "năng lực thẩm thấu" của mỗi địa phương dường như là rào cản, khiến FDI không mang lại những lợi ích nằm ngoài giới hạn của yếu tố "vốn". Thu hẹp khoảng cách giữa các chính sách thu hút đầu tư trước nay với các chính sách cần thiết để cải thiện các điều kiện của địa phương có thể giúp các tỉnh, thành phố tối đa hóa lợi ích do FDI mang lại.
Cuối cùng, một lưu ý quan trọng là không nên kỳ vọng về một tác động tức thì của sự phát triển giáo dục đối với phát triển kinh tế. Điều này có thể mất nhiều thời gian nhưng giáo dục dường như là một sự đầu tư đáng được thực hiện trong dài hạn. Ngành giáo dục và đào tạo cần phải đón đầu sự thay đổi nhanh chóng của cơ cấu nền kinh tế, của cơ cấu thị trường lao động sau khủng hoảng để có sự đáp ứng linh hoạt và kịp thời về quy mô và đảm bảo chất lượng, góp phần tạo ra một lực lượng lao động không chỉ “làm việc chăm chỉ hơn” mà còn cần phải “làm việc thông minh hơn” trong bối cảnh cạnh tranh và toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng gay gắt. 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bils. M and Klenow.P., 2000. ‘Does schooling Cause Growth?’, American Economic Review,90:1160-1183.
  2. Chen, E.K.Y., 1997. ‘The total factor productivity debate : determinants of economic growth in East Asia’, Asian-Pacific Economic Literature, 11(1):18-38.
  3. Kang, J.M., 2006. ‘An estimation of growth model for South Korea using human capital’ Journal of Asian Economics, 17(5):852-66.
  4. Kikuchi, T., 2007. ‘An analysis of the impacts of development on Gini inequality using grouped and individual observations : examples from the 1988 Vietnamese Household Expenditure Data’, Journal of Asian Economics, 18(3):537-52.    
  5. Lau, L.J., Jamison, D.T., Liu, S.C. and Rivkin, S., 1993. ‘Education and economic growth: some cross-sectional evidence from Brazil’, Journal of Development Economics, Tập 41, tr. 45-70.
  6. Lin, C.-H.A and Orazem, P.F., 2004. ‘A re-examination of the time path of wage differentials in Taiwan’, Review of Development Economics, 8(2): 295-308.
  7. Milanovic, B., 2006. ‘Inequality and determinants of earnings in Malaysia, 1984-97’, Asian Economic Journal, 20(2):191-216.
  8. Nguyễn Đức Thành.,2004. ‘Private and Social Returns to Investments in Education in Vietnam over time: 1993-2002’, MDE thesis, NEU.
  9. Permani, R., 2008. Education as a determinant of economic growth in East Asia: historical trends and empirical evidences (1965-2000), presented at the Asia Pacific Economic and Business History Conference on 13 February, University of Melbourne. Available on line at <(http://www.ouw.edu.au/commerce/econ/ehsanz/pdfs/Permani%202008.pdf)>, accessed 13 May 2008.
  10. Permani, R., 2009. ‘The Role of Education in Economic Growth in East Asia: A Survey’, Asian-Pacific Economic Literature. 23(1) (available online at (restricted access): http://www3.interscience.wiley.com/journal/122369303/abstract).
  11. Trần Thọ Đạt., 2008. Đề tài trọng điểm cấp Bộ ‘Những nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Việt Nam giai đoạn 2000-2006 và một số kiến nghị cho giai đoạn tới’.
  12. Trần Thọ Đạt., 2010. ‘Tăng trưởng kinh tế thời kỳ đổi mới ở Việt Nam’, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà nội.
  13. Wolff, E.N., 2000. ‘Human capital investment and economic growth: exploring the cross-country evidence’, Structural change and economic dynamics, Vol. 11, pp. 433-472.
  14. World Bank., 2009. ‘Report No. 47492-VN, Human Development Department, Vietnam Country Management Unit, East Asia and Pacific Region’, Hà nội.
  15. Zin, R.H.M., 2005. ‘Income distribution in East Asian developing countries: recent trends’, Asian-Pacific Economic Literature, 19(2):36-54.

Xem chi tiết trong (11)